Tin tức

Điều trị HP giúp ổn định kháng insulin trên bệnh nhân tiểu đường

Các nhà khoa học Nhật Bản vừa tìm ra phương pháp chữa trị, chống lại hiện tượng kháng insulin loại B cho các bệnh nhân đái tháo đường bằng cách loại bỏ vi khuẩn Helicobacter pylori có trong dạ dày. Nhóm các nhà khoa học, do Giáo sư Hideki Katagiri thuộc Khoa Y học Trường Đại học Tohoku đứng đầu, cho biết sau khi được chữa trị bằng phương pháp trên, một người đàn ông 80 tuổi bị mắc bệnh kháng insulin loại B đã bình phục hoàn toàn. Đây là trường hợp đầu tiên mắc bệnh kháng insulin loại B được chữa trị thành công nhờ loại bỏ vi khuẩn Helicobacter pylori trong dạ dày. Hiện tượng kháng insulin xuất hiện do sự rối loạn miễn dịch của cơ thể người. Hệ miễn dịch đã tạo ra các kháng thể chống lại insulin - một chất có tác dụng giảm lượng đường trong cơ thể con người. Giáo sư Katagiri cho rằng vi khuẩn Helicobacter pylori có thể là nguyên nhân gây ra căn bệnh kháng insulin loại B./. <!--Session data-->     <!--Session data-->  

Phát hiện gene mới chống lão hóa

 Phát hiện gen giúp chống lại sự lão hóa Phát hiện của các nhà khoa học thuộc Trường đại học Liverpool, Anh vừa cho biết: đã phát triển một phương pháp mới cho phép xác định các gen giúp bảo vệ cơ thể khỏi quá trình lão hóa do tuổi tác. Theo đó các nhà khoa học đã tiến hành phân tích các mẫu gen liên quan ở cả người và một số loài động vật. Kết quả phân tích cho thấy có một số gen liên quan đến cơ chế tự bảo vệ của cơ thể khỏi sự thay đổi, lão hóa của các tế bào. Các gen này ngăn chặn quá trình lão hóa bằng cách làm tăng nồng độ protein đặc trưng trong cơ thể, hoặc kích thích sự sản sinh các hormon cần thiết, từ đó cho phép cơ thể kiểm soát quá trình lão hóa. Nghiên cứu cũng giúp các nhà khoa học phân loại những gen này theo nhóm, mỗi nhóm có một tác dụng chống lại quá trình lão hóa khác nhau đối với từng cơ quan trong cơ thể. Trong số đó, các nhà khoa học đặc biệt chú ý đến nhóm gen có liên quan đến khả năng thích ứng của cơ thể với môi trường sống. Đây là nhóm gen giúp con người chống lại những tác động của môi trường có thể khiến cho cơ thể nhanh bị lão hóa.                MN (Theo  Bioinformatics)  

Triển vọng mới của Vitamin D3 trong bệnh ung thư Đại tràng

 Triển vọng của vitamin D3 trong phòng ngừa ung thư đại tràng Theo các nhà khoa học Tây Ban Nha, dạng hoạt hóa của vitamin D3 (cần cho hấp thu canxi và sức bền của xương) cũng có tác dụng phòng chống ung thư. Để tìm hiểu cơ chế tác động này, họ đã tiến hành xác định gen liên quan tới lớp tế bào ung thư đại tràng bị biến đổi bởi vitamin D3. Nhóm nghiên cứu đã tìm ra gen đảm trách việc sản sinh protein cystatin D và đã xác định được protein này có khả năng ức chế khối u. Dạng hoạt hóa của vitamin D3 tác động trực tiếp tới một trong các gen (CST5) ở lớp tế bào ung thư đại tràng, làm tăng nồng độ protein cystatin D. Về mặt chức năng, cystatin D có tác dụng ức chế tăng sinh lớp tế bào ung thư đại tràng người trong ống nghiệm và cũng có tác dụng tương tự trên chuột. Các tác giả kết luận rằng gen CST5 là gen ức chế khối u chọn lọc và có thể đáp ứng với tác động chống ung thư của vitamin D3. Đây là cơ sở cho việc triển khai các thử nghiệm lâm sàng nhằm xác minh khả năng phòng và điều trị ung thư đại tràng của vitamin D3. Đinh Đại (Theo Journal of Clinical Investigation, 7/2009)  

Giải mã cơ chế mới trong Ung thư di căn Phổi

 TS. Joan Massague và cộng sự thuộc Trung tâm Ung thư Memorial Sloan-Kettering (Mỹ) nhận thấy cơ chế di căn trong ung thư phổi cũng giống như cơ chế tế bào di căn trong ung thư đại trực tràng, nhưng nhanh hơn và thích ứng nhanh chóng khi di căn sang các cơ quan nội tạng khác.   Nhóm nghiên cứu đã xem xét trên số lượng lớn mẫu ung thư phổi và nhận ra cơ chế "tín hiệu tế bào WNT" là một trong 6 cơ chế được thử nghiệm về tính hoạt hóa quá mức trong các khối ung thư phổi khi chúng di căn và không di căn.   Các thử nghiệm sâu hơn trên chuột cho thấy tế bào ung thư phổi với đột biến gây khối u ở gen KRAS và EGFR phụ thuộc vào cơ chế WNT hoạt hóa quá mức gây di căn. Các nhà khoa học cũng nhận thấy 2 gen HOXB9 và LEF1 được hoạt hóa bởi WNT và làm tăng khả năng tế bào ung thư phổi xâm lấn nhanh chóng và tăng sinh khối u.   Kết quả này gợi ý rằng việc sử dụng trị liệu nhằm vào cơ chế WNT có thể giúp phòng ngừa ung thư phổi di căn tới các phủ tạng quan trọng khác của cơ thể.   Minh Hải (Theo Cell, 7/2009)

10 lời khuyên để có giấc ngủ ngon

10 lời khuyên để có giấc ngủ ngon Những căng thẳng, lo âu và cả những tiếng động đáng ghét ban đêm cũng có thể làm bạn mất ngủ. Nếu để tình trạng này kéo dài có thể dẫn đến sress và suy nhược cơ thể. Dưới đây là 10 lời khuyên để giúp bạn có giấc ngủ ngon vào ban đêm. 1. Hạn chế sử dụng chất kích thích Đặc biệt là buổi tối, hãy hạn chế tới mức tối đa sử dụng các đồ uống như: cà phê, trà, vitamin C và thuốc lá. Trong những sản phẩm này, người ta đã tìm thấy rất nhiều chất làm cho người sử dụng khó ngủ hoặc mất ngủ. Hãy thận trọng khi dùng thuốc chữa bệnh đau nửa đầu và các loại thuốc giảm đau. Đây là những loại thuốc có chứa chất gây mất ngủ. 2. Kiểm soát chế độ dinh dưỡng Thực phẩm mà bạn ăn hàng ngày cũng có thể là một yếu tố giúp bạn ngủ ngon hơn. Hãy cố gắng ăn đều đặn những thực phẩm có chứa vitamin B (cá, đậu nành, hoa quả khô, ngũ cốc). Canxi và magie cũng giúp bạn dễ vào giấc ngủ hơn, chúng có tác dụng làm hệ thần kinh bớt căng thẳng. Canxi có rất nhiều trong sữa và các sản phẩm làm từ sữa, magie có trong sô-cô-la, hoa quả và rau. Hãy cung cấp cho cơ thể đủ chất melatonin bằng cách ăn hàng ngày một lượng vừa đủ củ cải, ngô và gừng. Chất này giúp cơ thể thích ứng với sự thay đổi môi trường, thay đổi nhịp sinh học. 3. Thư giãn buổi tối Sau một ngày làm việc mệt mỏi, khoảng thời gian ăn tối và sau bữa tối chính là thời điểm thích hợp nhất để bạn thư giãn. Bạn nên tắm bằng nước ấm trước khi đi ngủ. Bên cạnh đó, đọc sách báo, nghe nhạc... khi lên giường giúp bạn nhanh chóng đi vào giấc ngủ. 4. Hãy tránh xa những bữa ăn nhiều chất đạm Khi bộ máy tiêu hóa phải làm việc quá sức, nó sẽ làm bạn khó ngủ và trằn trọc cả đêm. Đặc biệt nếu bạn uống nhiều rượu sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới não. 5. Không mang công việc lên giường Bạn đừng bao giờ đem công việc của cơ quan về nhà và tranh thủ làm trên giường, thần kinh bạn sẽ căng thẳng và do đó rất dễ bị mất ngủ. 6. Luôn để phòng thoáng mát Hãy giữ cho phòng bạn luôn thoáng mát, không quá nóng và không quá lạnh. Nhiệt độ lý tưởng nhất là 25 oC. 7. Đừng chống lại cơn buồn ngủ Hãy chú ý đến những dấu hiệu như ngáp ngủ, cay mắt... thường xuất hiện khi cơn buồn ngủ đến. Nếu bạn mải việc hoặc làm gì đó mà không để ý đến những dấu hiệu này, qua cơn buồn ngủ bạn rất khó có thể vào giấc ngủ. 8. Ngủ và thức giấc đều đặn Để có thể dễ dàng ngủ, điều quan trọng là bạn phải đi ngủ và thức dậy đúng giờ. Nếu bạn thường xuyên ngủ dậy muộn vào buổi sáng, sẽ rất khó ngủ vào buổi tối. Ngay cả đêm trước bạn trằn trọc, sáng hôm sau cũng hãy cố dậy đúng giờ. Đêm tiếp theo bạn sẽ thấy giấc ngủ đến với mình dễ dàng hơn. 9. Đừng cố ngủ khi chưa buồn ngủ Đừng cố nằm trên giường, trằn trọc, trở mình cả tiếng đồng hồ. Nếu không thể ngủ, bạn hãy ngồi dậy uống nước, đọc báo... Khi trở lại giường bạn sẽ dễ ngủ hơn. 10. Không ngủ trưa Nếu rất khó ngủ buổi tối, bạn đừng ngủ trưa. Giấc ngủ trưa sẽ làm bạn khó ngủ về đêm. HƯƠNG GIANG (Theo F.A)

Thuốc hỗ trợ cai nghiện thuốc lá

Người hút thuốc lá sau đó không bỏ hút được, vì hai lý do:   - Thiếu nicotin: nicotin (trong thuốc lá) khi mới dùng sẽ gây hưng phấn (đỡ mệt mỏi, buồn ngủ, linh hoạt, tỉnh táo). Khi bỏ thuốc lá sẽ không bị hội chứng cai,  nhưng vì  thiếu nicotin nên không có trạng thái hưng phấn, người hút thèm hút lại để có trạng thái thú vị này. - Do tâm lý: hút để vui, tỏ ra sành điệu, sang trọng, tự tin. Trẻ hút để tỏ ra là người lớn. Muốn bỏ thuốc lá phải loại bỏ hai lý do này. Vì bỏ thuốc lá sẽ  không bị hội chứng cai nên người nghiện có thể vượt qua được. Đa số chỉ cần loại bỏ yếu tố tâm lý là  bỏ được thuốc lá. Tuy nhiên cũng có người cần dùng đến thuốc hỗ trợ. Các loại  thuốc hỗ trợ cai thuốc lá - Nicotin Khi bỏ thuốc, do thiếu nicotin mà có cảm giác thèm nên hút lại. Dùng với liều thích hợp, nicotin không gây ra độc, song giải toả được cơn thèm, sau đó giảm liều dần làm người cai chịu đựng được, cuối cùng bỏ hẳn nicotin mà không bị thèm thuốc lá. Dùng nicotin dưới nhiều dạng: kẹo nhai, cao dán (nicotilnel TTS ), dạng hít (nicotrol inhaler)... Tuy nhiên, nicotin thấm qua nhau thai và tích tụ trong nước ối, vì vậy không dùng nicotin cho người  đang mang thai. Trường hợp người có thai  muốn cai và phải dùng nicotin mới cai được thì ưu tiên dùng viên nhai và miếng dán nhưng phải tháo miếng dán ra khi đi ngủ (nhằm tránh sự tích tụ nicotin trong nước ối về đêm). - Bupropion: Là thuốc chống trầm cảm thuộc nhóm aminoketon không có mối liên hệ hoá học nào với thuốc chống trầm cảm 3-4 vòng. Nó  ức chế sự nắm bắt neuron serotonin, norepinephrin và tái nắm bắt neuron dopamin nên chống được trầm cảm và giúp người cai tránh được những hụt hẫng do thiếu chất kích thích, gây cảm giác hưng phấn như nicotin. Dùng bupropion hỗ trợ cai  sau 12 tháng cho tỷ lệ cai thành công cao gấp hai lần so với người cai không dùng bupropion. Bupropion có một số độc tính, tương tác bất lợi với một số thuốc nên không  dùng trong các trường hợp động kinh hoặc có tiền căn động kinh, u não, suy chức năng gan nặng, trong các trường hợp đang dùng các thuốc: cai rượu, an thần (haloperidol, risperidol, thioridazin...), chống loạn nhịp nhóm IC (propafenone, flecainide), chẹn thụ thể beta (metoprolol), thuốc trầm cảm 3 vòng (amitriphtylin, nortriphtylin...), IMAO (hoặc nghỉ dùng chưa tới 14 ngày), thuốc ức chế chọn lọc tái nắm bắt serotonin (SSRI). Khi ngừng hút thuốc, tiềm năng các thuốc thyophylin, insulin, oxazepam, paracetamol, caffein... được tăng cường nên phải chú ý đến liều lượng bupropion và  liều lượng  các thuốc này. Dạng dùng viên, không nghiền vụn, nhai hay cắt ra khi uống. Không dùng cho người dưới 18 tuổi. Người xơ gan có thể  dùng nhưng uống cách nhật, hay giảm liều và nhịp độ dùng. Hiệu quả  bupropion rất rõ: Theo dõi 5.887 người  hút thuốc lá tại 10 trung tâm cai (ở Mỹ và Canada), thấy nhóm dùng bupropion cai (10 tuần) có 21,7% bỏ được trong khi nhóm không dùng chỉ có 5,5% bỏ được thuốc là. Và có tới 90% người bỏ thuốc lá sau 11 năm không hút lại. Một số lưu ý Có 80% người  bỏ  thuốc lá tăng cân (trong vòng 6 tháng  tăng được 6-7 kg) do "phản xạ ăn bù" vì khi  bỏ thuốc không còn nicotin cắt cơn đói. Điều này không đáng ngại, vì trong vòng 1-2 năm, tình trạng tăng cân sẽ mất đi. Không nên ăn kiêng khi cai thuốc lá (vì sẽ tăng stress, làm thất bại quá trình cai). Không nên uống rượu khi cai thuốc lá (vì rượu làm người cai thèm mãnh liệt thuốc lá). Hiện các nhà khoa học đã nghiên cứu  tạo ra vaccin chống nghiện thuốc lá như  vaccin CYT002-NicQb của hãng Cytos (Thụy Sĩ). Vaccin  này tạo ra kháng thể ngăn nicotin di chuyển đến não do đó không tạo ra  cảm giác hưng phấn khiến thích hút thuốc lá. Theo báo cáo có 40% người nghiện thuốc lá (từ 10-40 điếu/ ngày) bỏ thuốc lá trong vòng 9 tháng kể từ khi dùng vaccin.  Dự kiến khoảng năm 2010 thì vaccin này mới có trên thị trường.  Khi dùng thuốc hỗ trợ cai thuốc lá cần chú ý đến tính độc hại của nó và cần có sự chỉ dẫn của thầy thuốc (để dùng  đúng liều lượng, thời gian, tránh các tương tác bất lợi hay phản chỉ định nếu có), không nên tuỳ tiện dùng. DS. Phước Hà  

Phát hiện mới nuôi con bằng sữa mẹ

   Nuôi con bằng sữa mẹ tốt cho cả hai mẹ con. Kết luận này được các nhà khoa học Canada rút ra sau khi tiến hành theo dõi khoảng 140.000 phụ nữ. Theo họ, các bà mẹ càng cho con bú lâu càng tốt cho cả mẹ lẫn con, còn những người mẹ không cho con bú có nguy cơ cao bị ung thư vú hoặc ung thư buồng trứng và có thể bị tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ.    Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng cho biết lợi ích nữa của việc cho con bú là vóc dáng người mẹ có thể trở lại như lúc trước khi mang bầu nhanh hơn so với những bà mẹ không cho con bú.    Bộ Y tế Canada đã khuyến cáo các bà mẹ nên sử dụng sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng duy nhất cho trẻ dưới 6 tháng tuổi, sau đó tiếp tục cho trẻ bú sữa mẹ và ăn kèm các đồ ăn khác cho tới 2 tuổi hoặc hơn. Tuy nhiên, khảo sát cho thấy chỉ có 14% số bà mẹ ở Canada cho con bú đến 6 tháng tuổi. Ngọc Anh (Theo Medical News Today, 4/2009)

Bệnh Đái tháo đường có thể ảnh hưởng đến não

Tiến sĩ Iain Frame, chuyên gia nghiên cứu bệnh đái tháo đường của Anh cho biết: do nồng độ đường trong máu người bệnh không ổn định, máu cung cấp cho các tế bào não không đảm bảo được lượng đường cần thiết, nên đã ảnh hưởng tới hoạt động bình thường của các tế bào và hoạt động của não. Nghiên cứu trên 1.066 người bị mắc bệnh đái tháo đường týp 2 độ tuổi từ 60-75, các nhà khoa học phát hiện thấy: tỷ lệ mắc chứng hypoglycaemia cao hơn nhiều so với những người bình thường. Hypoglycaemia là một chứng bệnh xuất hiện do hiện tượng đường trong máu cung cấp lên não bị thiếu. Người bị mắc chứng hypoglycaemia thường có các triệu chứng mệt mỏi, ra mồ hôi nhiều, cảm giác đói, chóng mặt... đi kèm theo là hiện tượng tim đập nhanh, thiếu tập trung trong hoạt động tư duy. Kết quả kiểm tra khả năng ghi nhớ, khả năng tập trung và khả năng tư duy lôgic ở 113 bệnh nhân đái tháo đường bị mắc chứng hypoglycaemia cho thấy: các chỉ số này thấp hơn rất nhiều so với những bệnh nhân chưa bị mắc hypoglycaemia. Ngoài ra, tỷ lệ mắc các chứng Alzheimer, suy giảm trí nhớ... ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 cũng có chiều hướng gia tăng rõ rệt.  

Tìm ra hợp chất mới kháng HIV

Theo kết quả nghiên cứu mới đây, các thuốc kích thích tế bào đào thải cholesterol có thể hiệu quả trong việc chống lại HIV. Các nhà khoa học thuộc Trường đại học George Washington (Mỹ) đã tiến hành nghiên cứu hợp chất TO-901317 ở chuột và nhận thấy hợp chất này phục hồi đào thải cholesterol từ bạch cầu và đại thực bào nhiễm HIV. Việc đào thải cholesterol từ các tế bào này đã bị ức chế mạnh bởi HIV. Kết quả cũng cho thấy hợp chất này ức chế HIV-1 trong cả hai loại tế bào trên và hiệu quả kháng HIV đã giúp giảm đáng kể nồng độ HIV ở chuột. Người bị nhiễm HIV phải đối mặt với tăng nguy cơ bị xơ mỡ động mạch, dẫn tới bệnh động mạch vành và cơn đau tim. Các nhà khoa học cho rằng, kết quả nghiên cứu có thể mang lại biện pháp mới giúp giảm nguy cơ lây nhiễm và giảm nồng độ cholesterol ở người nhiễm HIV. Các thuốc như TO-901317 có thể mang lại lợi ích kép cho bệnh nhân nhiễm HIV bằng cách làm giảm sự nhân lên của HIV và phòng ngừa xơ mỡ động mạch do nhiễm HIV.      

Điều trị xuất tinh sớm

Thuốc điều trị xuất tinh sớmXuất tinh sớm là một trong các rối loạn tình dục phổ biến ở nam giới. Theo nhiều nghiên cứu thì tỷ lệ mắc bệnh vào khoảng 3 - 30%, tùy theo từng nghiên cứu.