Sỏi mật

Sỏi mật

 Sỏi mật là một khối cứng trong túi mật. Nó được tạo nên khi những thành phần của mật như cholesterol, sắc tố mật bilirubin kết tủa ra khỏi dung dịch và tạo nên vật thể. Sỏi mật được tạo thành khi các đặc trưng vật lý có sự thay đổi làm cho cholesterol bị giảm tính hòa tan. Hầu hết những trường hợp sỏi mật ở Mỹ (80%) là do sỏi cholesterol tạo nên.

 I- Giải phẫu và chức năng sinh lý của túi mật :

Túi mật (gallbladder) là một cái túi hình quả lê nằm dưới thùy gan phải. Nó nối liền với gan và ruột bằng một số ống nhỏ. Nhiệm vụ chính của túi mật là dự trữ mật. Mật được tạo thành trong gan rồi theo các ống gan đi vào túi mật, sau đó theo ống dẫn chung đi vào tá tràng (duodenum) do tác động của hormone cholecystokinin-pancreozymin tiết ra khi thức ăn vào tới tá tràng. Khi thức ăn đã tiêu hóa xong, túi mật thư dãn và lại tiếp tục tích trữ mật.
                                                                      
Mật là một chất lỏng màu nâu, thành phần gồm muối mật, cholesterol, bilirubin, và lecithin. Lecithin là chất mầu nâu sậm làm mật và phân có màu nâu.
Sỏi mật là gì và nguyên do tạo nên sỏi mật
Sỏi mật là một khối cứng trong túi mật. Nó được tạo nên khi những thành phần của mật như cholesterol, sắc tố mật bilirubin kết tủa ra khỏi dung dịch và tạo nên vật thể. Sỏi mật được tạo thành khi các đặc trưng vật lý có sự thay đổi làm cho cholesterol bị giảm tính hòa tan. Hầu hết những trường hợp sỏi mật ở Mỹ (80%) là do sỏi cholesterol tạo nên.
Sỏi mật có thể nhỏ như hạt cát (sạn túi mật) hay lớn bằng trái banh chơi golf.
Túi mật có thể tạo nên một sỏi mật lớn, hàng trăm những sỏi nhỏ, hay hỗn hợp cả hai loại.
Sỏi mật có thể cản trở luồng mật luân chuyển trong mật nếu nó nằm tại những ống mật nhỏ dẫn mật từ gan đến ruột. Những ống mật nhỏ này có thể là ống gan (hepatic ducts) mang mật ra khỏi gan, ống dẫn mật (cystic ducts) luân chuyển mật tới lui từ gan đến túi mật, và ống mật chung (the common duct bile) dẫn mật từ những ống mật và ống gan đến ruột non. Mật ứ trữ ở những chỗ bị nghẽn sẽ gây nên viêm túi mật, viêm ống dẫn mật và đôi khi dù rất hiếm gây viêm gan. Ống dẫn mật tới tụy tạng nếu bị nghẽn thì những diếu tố trong tuỵ tạng bị tích tụ ở tụy tạng và có thể gây nên viêm tụy tạng do sỏi mật (gallstone pancreatitis). Nếu những ống dẫn mật bị nghẽn tắc trong một thời gian đáng kể thì nhiễm trùng hoặc hư hại những cơ quan liên hệ có thể xẩy ra. Triệu chứng báo trước thường gồm nóng sốt, vàng da, và đau dai dẳng. Sỏi mật gồm hai loại, loại sỏi mật cholesterol và sỏi mật chứa sắc tố mật bilirubin.
Sỏi mật bilirubin thường thấy ở những người bị bệnh gan viêm trầm trọng, hoặc bệnh về thiếu máu (sickle cell anemia). Sỏi mật sắc tố thường đậm màu và do bilirubin tạo nên.
Sỏi mật cholesterol thường thấy ở đàn bà ngoài 20 tuổi, nhất là đàn bà mang thai, đàn ông trên 60 tuổi, đàn ông và đàn bà béo phì, những người muốn gầy hay xuống cân trong một thời hạn gấp rút, những người dùng thuốc ngừa thai, những người dùng thuốc làm giảm thấp cholesterol trong máu, và những người Mỹ gốc da đỏ và gốc Mễ tây cơ.
Sỏi mật cholesterol có màu vàng xanh và được tạo nên do cholesterol cứng lại.
II- Nguyên nhân gây nên sỏi mật :
Ngoài hai chất chính cholesterol gây sỏi cholesterol, và sắc tố bilirubin gây sỏi mật bilirubin, có một số yếu tố ảnh hưởng đến việc tạo sỏi mật nhất là sỏi mật cholesterol.
* Mập phì. Mập phì là một nguy cơ đáng ngại cho sỏi mật, nhất là cho đàn bà. Người ta giả định rằng mập phì có khuynh hướng làm giảm số lượng muối mật bài tiết, do đó cũng làm tăng hàm lượng cholesterol. Mập phì cũng làm giảm sự tống xuất túi mật.
* Estrogen. Lượng estrogen thặng dư do thai nghén, do uống kích thích tố, hay do uống thuốc ngừa thai cũng được giả định là làm tăng hàm lượng cholesterol trong máu và làm giảm chuyển động của túi mật. Cả hai điều kiện này đều dễ gây nên sỏi mật.
* Chủng tộc. Người Mỹ thổ dân (Native Americans) trong cơ thể chứa di thể có khuynh hướng làm tiết nhiều cholesterol trong mật. Tỷ lệ số người có sỏi mật cao nhất là những người này. Một số lớn người Mỹ thổ dân đàn ông có sỏi mật vào tuổi 60. Giữa nhóm người Pima Indians ở Arizona, 70% đàn bà có sỏi trong mật vào tuổi 30. Người Mỹ gốc Mễ Tây cơ cũng có tỷ lệ bị sỏi mật rất cao.
* Phái tính. Đàn bà thường bị sỏi mật nhiều hơn. Số đàn bà giữa 20 và 60 tuổi có nhiều triển vọng bị sỏi mật gấp đôi số đàn ông.
* Tuổi tác. Những người trên 60 tuổi dễ bị sỏi mật hơn
* Thuốc làm giảm cholesterol. Thuốc làm giảm cholesterol trong máu làm tăng lượng cholesterol trong mật, và bởi thế cơ hội có sỏi trong mật lại cao hơn.
* Bệnh tiểu đường. Những người có bệnh tiểu đường thường có lượng fatty acids triglyce- -rides cao. Những chất này có thể làm tăng nguy cơ bị sỏi mật.
* Xuống ký quá nhanh. Khi cơ thể cố gắng biến dưỡng chất béo trong thời gian xuống ký quá nhanh, nó có thể gây lý do cho gan tạo thêm nhiều hơn cholesterol để chuyển tới mật.
* Nhịn đói. Nhịn đói làm giảm chuyển động của túi mật, do đó mật tích tụ lại với nồng độ cholesterol cao, dễ gây sỏi mật.
* Nhiễm ký sinh trùng. Nhiễm ký sinh trùng đường ruột là đặc điểm của sỏi đường mật xứ nhiệt đới. Loại ký sinh trùng thường gặp là giun đũa. Trong phẫu thuật, khi mở ống mật chủ thường thấy sỏi nát mủn kèm với các mảnh xác giun hay giun còn sống.
Vấn đề nhiễm ký sinh trùng đường ruột trong bệnh lý sỏi đường mật được tường trình qua nhiều nghiên cứu của các tác giả vùng nhiệt đới (xin đọc bài viết Sỏi mật ở Việt Nam).
III- Tình hình sỏi mật ở Việt Nam và thế giới:
Bệnh sỏi đường mật rất phổ biến ở hai miền, Bắc và Nam Việt Nam.
Xác định vai trò của giun đũa trong việc hình thành sỏi đường mật.
Về vị trí sỏi: sỏi túi mật có tỷ lệ thấp khoảng 10%, sỏi ống mật chủ rất cao 80% và sỏi đường mật trong gan khá cao, 30-50%, các tỷ lệ này đang thay đổi do siêu âm được dùng rộng rải trong chẩn đoán.
Sốc nhiễm trùng đường mật và hội chứng gan-mật và chảy máu đường mật là hai biến chứng thường gặp
Số bệnh nhân được mỗ trong hoàn cảnh cấp cứu khá cao , khoảng 50%, do viêm phúc mạc, thấm mật phúc mạc hay nhiễm trùng đường mật..
Tái phàt sỏi với tỷ lệ 30% là vấn đề quan trọng được bàn cải rất nhiều.
Tỉ lệ tử vong chung là 10%, nhiều nhứt ở nhóm sốc nhiễm trùng, chày máu đường mật và mỗ cấp cứu.
Hiện nay một số trung tâm phẩu thuật ở thành phố hồ chí minh và hà nội đang cố gắng trang bị để có thể lấy sỏi qua đường nội soi. ( GS Nguyễn Văn Hối ).
Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Bệnh viện Việt Đức, gần 42% bệnh nhân sỏi mật có béo phì.
Bệnh sỏi mật gặp nhiều ở nữ hơn nam và có xu hướng tăng dần theo tuổi. Nguyên nhân gây ra sỏi mật là bệnh viêm túi mật mãn tính, ứ đọng mật và nhiễm trùng túi mật. Hiện tượng táo bón cũng tạo ra cơ hội cho vi trùng đường ruột phát triển, dẫn đến viêm tá tràng, túi mật và ống mật, do đó nó làm cho mật dễ lắng xuống thành sỏi. Sỏi mật có 2 loại:
Sỏi sắc tố mật: Loại này ít gặp.
 
Sỏi cholesterol: Thường đi đôi với tình trạng cholesterol cao trong máu. Cholesterol dễ gây sỏi nếu nó có các chất béo khác kèm theo, thường gắn liền với tình trạng béo phì. Theo nghiên cứu của Đại học Kentucky (Mỹ), béo phì là một yếu tố nguy cơ quan trọng gây bệnh sỏi túi mật. Theo dõi trong 15 năm cho thấy, 3.200 trong tổng số 42.000 phụ nữ béo phải mổ sỏi mật. Người có vòng eo hơn 91,5 cm nguy cơ mổ lấy sỏi mật cao gấp đôi người có vòng eo dưới 66 cm.
Thành phần của sỏi mật gồm những gì?
 
Sỏi mật gồm nước muối mật, sắc tố mật, canxi..., chúng cô đặc dần và thành sỏi. Đây là loại sỏi tổng hợp, hay gặp và có thể phát hiện khi chụp Xquang. Ngoài sỏi mật tổng hợp còn có nhiều loại sỏi khác như:
 
Sỏi cholesterol: Cấu tạo chủ yếu bằng cholesterol – là một thành phần chuyển hóa của gan, là một thành phần của mỡ máu. Loại này có màu vàng sẫm, không cản quang. Loại sỏi này hình thành khi có sự rối loạn về nồng độ cholesterol, acid mật và lecithin. Có một số yếu tố thúc đẩy sự hình thành sỏi cholesterol đó là: tuổi, giới (nữ/ nam = 3/1), chủng tộc, yếu tố gia đình, béo phì, phụ nữ đẻ nhiều con, uống một số thuốc như thuốc hạ mỡ máu, thuốc ngừa thai, ăn uống quá nhiều năng lượng...
 
 Sỏi sắc tố mật: Thường gặp ở các nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam, có hai loại đen và nâu.
 
- Sỏi sắc tố đen: Màu đen hình dạng không đều, nó được thành lập khi nồng độ bilirubin không liên hợp trong mật gia tăng, đây là trường hợp của huyết tán và trong xơ gan.
 
- Sỏi sắc tố nâu: Màu nâu hoặc vàng nhạt, đây là hậu quả của giun chui ống mật và nhiễm khuẩn đường mật.
 
Sỏi muối mật: Thường có màu đỏ, cũng dễ kết hợp với canci
IV- Triệu chứng có sỏi mật
Triệu chứng thông thường nhất là cứ đau hoài ở phần bên phải bụng trên. Cơn đau có thể kéo dài từ 15 phút đến vài giờ. Đôi khi bệnh nhân ói mửa hay đổ mồ hôi. Những cơn đau có thể cách nhau hàng tuần, hàng tháng và đôi khi cả năm.
Tùy theo vị trí của sỏi mật mà cường độ đau và biến chứng đến cơ quan liên hệ có thể xẩy ra. Khi ống dẫn mật bị nghẹt, bệnh nhân có thể bị viêm túi mật cấp tính (acute cholecystitis), bị nóng sốt, đau và có thể bị nhiễm trùng túi mật.
Trường hợp khi sỏi mật nằm trong ống dẫn mật chung (common bile duct) thì có thể gây nhiễm độc ống dẫn mật chung, và khi sỏi mật thoát khỏi ống mật vào trong tụy tạng, nó có thể gây viêm tụy tạng.
Khi bị sỏi mật sẽ biểu hiện đặc trưng như thế nào?
Sỏi túi mật: Đây là loại sỏi có thể có một thời gian dài yên lặng. Khi có biểu hiện lâm sàng, triệu chứng chủ yếu là cơn đau quặn gan, đau dữ dội vùng hạ sườn phải, lan ra sau lưng và lên vai phải, đôi khi đau lan sang cả vùng thượng vị làm dễ nhầm tưởng là đau dạ dày. Cơn đau quặn gan kéo dài trên 15 phút đến 3 - 4 giờ, nếu trên 6 giờ phải nghĩ đến có biến chứng. Nếu có hiện tượng tắc nghẽn thì túi mật ngày càng to dần lên, khi sờ vào có thể thấy túi mật căng phồng, ấn vào bệnh nhân rất đau, nếu không xử trí kịp thời có thể đưa đến viêm túi mật cấp tính, sẽ sốt cao 39 – 40o C.
 
 Sỏi đường mật: Đây là loại sỏi có biểu hiện lâm sàng rất đa dạng, đau thường là do sự di chuyển của sỏi túi mật và sỏi đường mật trong gan. Thông thường có 3 triệu chứng rất điển hình (gọi là tam chứng Charco) tuần tự xuất hiện: đầu tiên là cơn đau quặn gan với biểu hiện như trên, sau đó xuất hiện sốt nóng và rét run. Cuối cùng là vàng da, vàng mắt, phân bạc màu, đi tiểu nước tiểu sẫm màu.
 
Ngoài những biểu hiện lâm sàng thì các xét nghiệm cận lâm sàng đặc biệt là siêu âm xét nghiệm cơ bản không xâm nhập giúp phát hiện sỏi 70 – 80%, ngoài ra còn giúp phát hiện tổn thương đường mật, túi mật, tụy.
 
 
 
Những biến chứng gì có thể xảy ra?
 
Viêm và nhiễm khuẩn đường mật, túi mật cấp; hoại tử túi mật và thấm mật phúc mạc là biến chứng rất nguy hiểm phải can thiệp ngoại khoa và có thể để lại hậu quả nặng nề. Rò túi mật đường mật vào ống tiêu hóa và ứ nước túi mật. Xơ gan: biến chứng này xảy ra do ứ mật lâu ngày kèm viêm nhiễm làm tổn thương nhu mô gan và thay thế bằng tổ chức xơ.
 
 
VI - Chẩn Bệnh
Bệnh nhân cần cho Bác sĩ biết triệu chứng của mình càng nhiều chi tiết càng tốt khi đến khám bệnh bác sĩ. Nếu nghi là có sỏi trong túi mật thì thử nghiệm chức năng gan giúp cho biết được tình trạng bệnh căn cứ trên thông số thử nghiệm máu.
Siêu âm bụng (abdominal ultrasound) và cho uống thuốc uống cholesystogram (OCG) có chất cản quang rồi chụp quang tuyến X là hai phương pháp thường được dùng. Hai loại thử nghiệm này có hiệu nghiệm trong 95% trường hợp chẩn bịnh. Hiện nay chẩn bệnh bằng siêu âm rất thông dụng.
Đôi khi một phương pháp khác là nội soi ngược dòng chụp X quang đường mật và tụy tạng (mật tụy ngược dòng qua nội soi/endoscopic retrograde cholangiopancreatography / ERCP), hoặc phương pháp dùng kim luồn xuyên tới vùng gan và ống mật (chụp đường mật qua da xuyên gan/percutaneous transhepatic cholangiography /PTC) cũng được dùng tùy theo tình trạng của bệnh nhân.
V - Điều trị
Điều trị sỏi mật bao gồm điều trị nguyên nhân là loại bỏ sỏi đồng thời điều trị triệu chứng và biến chứng nếu có. Khi điều trị nội khoa có thể sử dụng các thuốc chống co thắt cơ trơn như atropin, papaverin, nospa, visceralgin...; các thuốc chống nhiễm khuẩn như nhóm aminoglycosid, nhóm quinolon...; nhóm thuốc làm tan sỏi như chenodex, ursolvan..., tuy nhiên khi dùng các thuốc này phải có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.
 
 Khi điều trị nội khoa không có kết quả nên chuyển sang điều trị ngoại khoa với các kỹ thuật mới như tán sỏi qua da, lấy sỏi qua nội soi ngược dòng... đã mang lại nhiều lợi ích cho người bệnh
Với những sỏi mật không gây triệu chứng thì có thể theo dõi và chưa cần phải làm gì. Trong trường hợp có sỏi mật và túi mật viêm cấp tính thì cần mổ cắt bỏ túi mật (cholecystectomy).
Có hai phương pháp (thủ thuật) cắt bỏ túi mật.
Một loại phẫu thuật cắt bỏ túi mật mở ngỏ (open cholecystectomy) và một loại gọi là tiểu phẫu thuật cắt bỏ túi mật qua ống soi ổ bụng (laparoscopic cholecystectomy/belly-button surgery).
Một vết mổ rạch dài từ năm đến tám inches được thức hiện trong phương pháp mở ngỏ để cắt túi mật. Phương pháp này rất an toàn và bệnh nhân cần nằm ở nhà thương bốn năm ngày và cần nhiều tuần ở nhà để phục hồi sức khỏe.
Phương pháp mổ qua ống soi ổ bụng được thực hiện với một số vết rạch nhỏ ở vùng bụng, một máy camera tí hon và dụng cụ giải phẫu được mang vào trong bụng và phẫu thuật thực hiện qua màn ảnh truyền hình hướng dẫn ở phía ngoài. Phương pháp này mau lành hơn, vấn đề thẩm mỹ cũng khá hơn, thời gian ở nhà thương thường rất ngắn chỉ cần một hay hai ngày và thời gian bình phục ở nhà có thể chỉ trong vòng một tuần. Phương pháp này hiện nay được thực hiện trong đến 90 % trường hợp ở Hoa Kỳ.
Ngoài phương pháp giải phẫu, trong một số bệnh nhân, nhất là những bệnh nhân không thể có giải phẫu được vì tình trạng bệnh tật khác thì sỏi mật có thể được trị liệu bằng một vài loại thuốc uống. Những thuốc này làm nhẹ mật và giúp tan sỏi mật loại cholesterol.
Hiện nay trên thị trường có thuốc ursodiol (ursodeoxycholic acid/Actigall 300mg, Urso 250mg) và chenodiol (chenodeoxycholic acid/Chenix). (hiện nay Chenix chưa được chấp thuận cho lưu hành tại Hoa Kỳ và Canada). Thường thì thuốc uống không thể trị khỏi hẳn sỏi mật, và sỏi mật lại xuất hiện trở lại ở một số bệnh nhân. Thuốc này phải uống trong một thời gian lâu dài nhiều khi cả năm trước khi sỏi mật mới tan được. Cả hai loại đều gây tiêu chảy nhẹ, và chenodiol đôi khi gây cholesterol và diếu tố gan trong máu lên cao.
Đôi khi phương pháp chích thuốc methyl terbutyl ether thẳng vào túi mật để làm tan sỏi mật cũng được dùng. Phương pháp này có thể làm tan sỏi mật cholesterol không calci hóa trong vòng 1 đến 3 ngày nhưng thuốc rất độc hại, phải dùng hết sức cẩn thận.
Một phương pháp khác nói đến ở đây là dùng luồng sóng ngoài cơ thể để bắn vỡ sỏi mật (Extracorporeal Shock Wave Lithotripsy / ESWL), và sau đó cho dùng thuốc uống.
Phương pháp này phí tổn rất cao, và rất thịnh hành trong thời gian những năm 1990s, nhưng bây giờ ít dùng so với sự an toàn và phí tổn nhẹ của phương pháp mổ qua ống soi ổ bụng (laparoscopic surgery).
VI- Bị sỏi mật thì ăn uống thế nào?
 
Người bị sỏi mật nên hạn chế ăn mỡ vì chất này ảnh hưởng đến chức năng gan, mật và dạ dày. Khi ăn nhiều mỡ, mật xuống ruột không đều, kích thích túi mật co bóp quá mạnh, một phần mật tham gia cùng cholesterol tạo sỏi.
Giảm mỡ: Cần hạn chế các thực phẩm cholesterol như phủ tạng động vật, trứng…
Tăng đạm để tăng tạo tế bào gan đã bị tổn thương, chống thoái hóa mỡ tế bào gan.
Giàu đường bột: Thức ăn này dễ tiêu, lại không ảnh hưởng đến mật. Nhiều chất xơ lại giúp tiêu hóa tốt tránh táo bón.
Giàu vitamin C và nhóm B (để tăng chuyển hóa chất mỡ và đường bột). Dùng rau và hoa quả tươi rất tốt.
Tỷ lệ giữa các chất dinh dưỡng đạm, mỡ, đường ở người trưởng thành bình thường là 1/0,75/5 còn ở người bị sỏi mật nên là 1/0,5/5.
Thức ăn không nên dùng: Trà, cà phê, cacao, chocolate; thịt cá nhiều mỡ, dầu cọ, dầu dừa, phủ tạng động vật. Hạn chế ăn lòng đỏ trứng.
Thức ăn nên dùng: Nước quả, hoa quả tươi các loại, rau tươi, bánh kẹo ít trứng bơ, các loại thịt cá nạc như nạc thăn lợn, thịt bò, cá quả, cá chép, các loại đậu đỗ như đậu tương, đậu xanh, đậu đen. Ngoài ra có một số thức ăn lợi mật như nghệ, lá chanh, có thể dùng được.
Để kích thích túi mật co bóp nhẹ nhàng, có thể dùng một ít chất béo dễ tiêu như bơ rồi đến dầu thảo mộc sống, mỡ gà vịt.
 
 Vậy dự phòng bệnh sỏi mật như thế nào?
 
Hạn chế ăn mỡ động vật, phủ tạng động vật, cẩn trọng khi dùng thuốc tránh thai... Ăn uống hợp vệ sinh, định kỳ 6 tháng tẩy giun một lần. Tập thể dục liệu pháp, xoa nắn cơ thành bụng vùng túi mật, có thể sử dụng thuốc nhuận mật như chophytol, sorbitol. 
 
 
Dược thảo điều trị sỏi đường tiết niệu và đường mật
 
 
Sỏi đường tiết niệu y học cổ truyền gọi là chứng sa lâm, thạch lâm, gồm các triệu chứng chủ yếu: đau bụng, đau lưng, tiểu tiện ra máu, tiểu tiện khó. Nguyên nhân do thấp nhiệt gây lắng đọng cặn ở nước tiểu, kích thước nhỏ gọi là sa, to gọi là thạch, làm trở ngại đến việc bài tiết nước tiểu, dẫn đến tiểu tiện khó, ứ lại gây đau. Thấp nhiệt còn gây sốt, huyết ứ khí trệ làm chảy máu. Sỏi túi mật và sỏi đường dẫn mật có triệu chứng chủ yếu là đau vùng hạ sườn phải và vàng da.
                                                                                           
 
 
Các dược thảo trị sỏi đường tiết niệu và đường mật
 
1. Kim tiền thảo
Ở nước ta, kim tiền thảo thường gặp ở các tỉnh thuộc vùng núi thấp và trung du phía Bắc, từ Nghệ An trở ra. Kim tiền thảo đang được nghiên cứu trồng ở một số nơi. Nghiên cứu dược lý đã chứng minh chất soyasaponin I và polysacarid chứa trong kim tiền thảo có tác dụng làm tăng lượng bài tiết nước tiểu và ức chế sự hình thành sỏi hoặc sự tăng trưởng của sỏi calci oxalat ở đường tiết niệu.
 
Đối với gan mật, kim tiền thảo có tác dụng tăng cường sự phân tiết dịch mật. Kim tiền thảo được dùng chữa sỏi đường tiết niệu, sỏi mật, viêm gan vàng da, viêm thận phù thũng. Liều dùng hàng ngày: 15-30g, sắc nước uống.
 
2. Râu mèo
Nghiên cứu dược lý lâm sàng cho thấy râu mèo rất có ích trong điều trị bệnh thận và phù thũng. Râu mèo có tác dụng làm kiềm hóa máu, sự có mặt của hoạt chất orthosiphonin và muối Kali trong dược liệu có tác dụng giữ cho acid uric và muối urat ở dạng hòa tan, do đó giúp phòng ngừa sự lắng đọng của những chất này để tạo thành sỏi thận. Trong một thử nghiệm trên người tình nguyện khỏe mạnh, cao chiết râu mèo có tác dụng làm tăng sự bài tiết citrat và oxalat. Oxalat với hàm lượng cao có thể làm tăng nguy cơ hình thành sỏi thận, sự bài tiết citrat được tăng cường giúp ngăn ngừa sự hình thành sỏi thận.
 
 
Theo kinh nghiệm dân gian, râu mèo được dùng làm thuốc lợi tiểu trong điều trị bệnh viêm thận, sỏi thận, sỏi mật.
 
3. Mã đề
Mã đề có tác dụng lợi tiểu, được dùng chữa viêm thận và bàng quang, bí tiểu tiện, tiểu tiện ra máu hoặc ra sỏi. Ngày uống 10-20g toàn cây hay 6-12g hạt dưới dạng thuốc sắc. Thường phối hợp với các vị thuốc khác.
 
 
4. Thạch vĩ
Thạch vĩ gặp phổ biến ở các tỉnh miền núi phía Bắc và các tỉnh vùng trung du ở cả hai miền Nam Bắc. Theo kinh nghiệm dân gian, thạch vĩ được dùng làm thuốc lợi tiểu trong các trường hợp sỏi đường tiết niệu, tiểu ra máu, viêm niệu đạo, bàng quang. Ngày dùng 6-12g dưới dạng thuốc sắc.
 
 
5. Ý dĩ
Theo y học cổ truyền, ý dĩ dùng chữa phù thũng, bí tiểu tiện, tiểu tiện ra sỏi. Liều dùng 20-30g, thường dùng dưới dạng thuốc sắc. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.
 
 
Các bài thuốc trị sỏi niệu và sỏi mật
 
 
1. Chữa sỏi đường mật
 
 
a. Kim tiền thảo 30g, chỉ xác (sao) 10-15g; Xuyên huyện tử, hoàng tinh, sinh đại hoàng, mỗi vị 10g. Sắc uống ngày một thang.
 
 
b. Kim tiền thảo, rau má tươi, cỏ xước, mỗi vị 20g; Hoạt thạch, củ gấu, mỗi vị 12g; Nghệ vàng, hải tảo, mỗi vị 8g; Mề gà 6g. Sắc uống ngày một thang.
                                                                                          
 
 
c. Kim tiền thảo, nhân trần, mỗi vị 40g; Sài hồ, xa tiền, mỗi vị 16g; Chi tử 12g, chỉ xác, uất kim mỗi vị 8g; Nha đạm tử 6g, đại hoàng 4g. Sắc uống ngày một thang.
 
 
d. Sài hồ 16g; Long đởm thảo, hoàng cầm, chi tử mỗi vị 12g, cam thảo, đại hoàng, mỗi vị 4g. Nếu sốt và vàng da nhiều, thêm bồ công anh 40g, hoàng liên 12g, hoàng bá 12g. Sắc uống ngày một thang.
 
 
2. Chữa sỏi đường tiết niệu:
 
 
a. Kim tiền thảo 30g, hải kim sa, đông quỳ tử, xuyên phá thạch, hoạt thạch, mỗi vị 15g; Ngưu tất 12g. Sắc uống ngày một thang.
 
 
b. Kim tiền thảo 30g, xa tiền tử 15g; Thanh bì, ô dược, đào nhân, mỗi vị 10g; Ngưu tất 12g. Sắc uống ngày một thang.
 
 
c. Kim tiền thảo 40g; mã đề, tỳ giải, mỗi vị 20g; Trạch tả, uất kim, ngưu tất, mỗi vị 12g; Kê nội kim 8g. Sắc uống ngày một thang.
 
 
d. Ý dĩ 20g sắc uống trong ngày. Uống liên tục đến khi thấy tiểu tiện bình thường.
 
 
3. Chữa tiểu ra sỏi, tiểu ra máu và tiểu buốt
 
 
Râu mèo 40g, thài lài trắng 30g. Sắc lấy nước, mỗi lần hòa thêm 6g bột hoạt thạch uống trong ngày. Mỗi ngày dùng một thang.
 
 
4. Thúc đẩy sự bài xuất sỏi ở bệnh nhân sỏi niệu.
 
 
Kim tiền thảo 40g, hạt mã đề, thạch vĩ, hoạt thạch, hải kim sa, mỗi vị 20-40g; Đông quỳ tử, ngưu tất, chỉ xác, hậu phác, vương bất lưu hành, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang.
 
 
5. Chữa sỏi kèm theo bội nhiễm đường tiết niệu.
 
 
Kim tiền thảo 40g, mã đề 20g; Sinh địa, đạm trúc diệp, mỗi vị 16g; Mộc thông, cam thảo sao cháy, kê nội kim, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.
 
 
6. Chữa sỏi đường tiết niệu gây sung huyết, chảy máu.
 
 
a. Kim tiền thảo 40g, mã đề 20g, ý dĩ 16g, ngưu tất 12g; Đào nhân, uất kim, chỉ xác, đại phúc bì, kê nội kim, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.
 
 
b. Sinh địa 16g, bạch thược, xuyên khung, đương quy, đại phúc bì, liên kiều, mỗivị 12g; Đào nhân, hồng hoa, chỉ thực, uất kim, kê nội kim, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.
 
 
7. Chữa sỏi đường tiết niệu không có cơn đau, không tiểu tiện ra máu, không tiểu buốt, tiểu dắt.
 
 
Uống thường xuyên các vị thuốc bổ tỳ, bổ thận phối hợp với các vị thuốc lợi tiểu làm tan sỏi, tiêu dần hoặc bài tiết ra ngoài.
 
 
a. Kim tiền thảo 20g; Đảng sâm, mã đề, mỗi vị 16g; Trạch tả, ý dĩ, mỗi vị 12g; Bạch truật, phục linh, ba kích, kê nội kim, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.
 
 
b. Kim tiền thảo 40g, ngải cứu 16g, kê nội kim 8g. Sắc uống ngày một thang.
 
 
c. Kim tiền thảo, xa tiền tử, bạch mao căn, mỗi vị 20g; Ý dĩ 12g. Sắc uống ngày một thang.
 
Trường hợp dùng thuốc như trên không đỡ hoặc sỏi niệu quản gây ứ nước, ứ mủ ở thận thì phải xử trí bằng phương pháp phẫu thuật lấy sỏi. Sau khi phẫu thuật xong có thể tiếp tục dùng các bài thuốc trên để tránh sỏi niệu tái phát.
 
                                                                             ( Theo GS. ĐOÀN THỊ NHU )
Theo kết quả của một nghiên cứu tại Trung Quốc cho thấy, nếu uống mỗi ngày một tách trà, đặc biệt là trà xanh, có thể giảm đáng kể nguy cơ sỏi mật và các loại ung thư, nghiên cứu này có tác dụng đặc biệt ở phụ nữ.
 
Sỏi mật thường xảy ra ở phụ nữ và có liên quan tới chứng béo phì, tập trung ở đường ống dẫn mật từ gan tới ruột non. Nếu những viên sỏi này chặn ở cửa ra vào của túi mật, chúng sẽ gây cảm giác khó chịu và đau đớn, thường là ở dưới lồng ngực phía bên phải của ổ bụng. Vào giai đoạn này, cần tiến hành phẫu thuật loại bỏ túi mật.
 
 Còn ung thư ống mật thường hiếm gặp nhưng nếu có thì nguy cơ tử vong cao. Bác sĩ Ann Hsing tại Viện Ung thư quốc gia ở Maryland, Mỹ, cho biết. "Ngoài sỏi mật, những yếu tố gây ra ung thư ống mật vẫn chưa được xác định rõ. Vài nghiên cứu đã gợi ý rằng uống trà, đặc biệt là trà xanh, sẽ bảo vệ bạn tránh được nhiều loại ung thư".
 
Ở phụ nữ, uống tối thiểu một tách trà mỗi ngày trong ít nhất 6 tháng có thể giảm nguy cơ sỏi thận tới 27%, ung thư túi mật 44% và ung thư ống mật 35%.
 
Riêng ở nam giới, việc uống trà cũng có hiệu quả tương tự nhưng không mạnh mẽ như ở phụ nữ.
 
Gần đây, trà xanh dần trở thành thức uống phổ biến trong gia đình, là loại giải khát dùng hàng ngày. Ngoài tác dụng giảm các bệnh có liên quan đến sỏi mật và ung thư, trà còn có nhiều tác dụng khác tốt cho cơ thể. Trong trà xanh có chứa thành phần chống lão hoá và lượng vitamin C dồi dào không những giúp loại trừ mệt mỏi cho cơ thể mà còn kích thích thận sinh sản hoóc-môn chống lại stress.
 
 Sỏi mật là bệnh điều trị khá phức tạp. Tuy nhiên, một nghiên cứu khoa học của các giáo sư trường ĐH Kentucky (Hoa Kỳ) cho biết: Ăn uống theo chế độ nhều rau, ít thịt có thể giúp ngăn chặn được bệnh này.
 
 
Cuộc nghiên cứu kéo dài suốt 14 năm, theo dõi trên 45.000 nam giới ở độ tuổi trung niên được chẩn đoán là không bị sỏi mật vào thời điểm nghiên cứu. Khi mới bắt đầu, những người này phải trả lời toàn bộ câu hỏi có liên quan đến thói quen ăn uống. Cứ hai năm một lần họ lại phải trả lời những câu hỏi tương tự và kết hợp siêu âm gan mật để xác định xem có bị sỏi mật hay không.
 
 
Sau 14 năm nghiên cứu, kết quả cho thấy 20% trong số họ thường xuyên ăn chất béo chưa bão hoà, khẩu phần ăn hàng ngày phần lớn là rau quả và dầu thực vật, 20% thường xuyên tiêu thụ chất béo bão hoà. Ở nhóm người dùng chất béo không bão hoà, nguy cơ hình thành sỏi mật giảm 18% so với nhóm kia.
 
 
Các nhà nghiên cứu đi đến kết luận: chất béo bão hoà chứa nhiều cholesteron - chất có vai trò quan trọng trong việc hình thành sỏi mật.
 
Khám phá này đã phần nào làm sáng tỏ những kết quả của một số nghiên cứu mới đây. Đó là nghiên cứu của các nhà khoa học Hi Lạp về việc dùng nhiều dầu olive - vốn chứa nhiều chất béo chưa bão hoà có tên axit oleic - có thể làm giảm xác suất bị sỏi mật.