Chữa bệnh khớp bằng các liệu pháp tự nhiện hiệu quả

Chữa bệnh khớp bằng các liệu pháp tự nhiện hiệu quả

Viêm xương khớp là hình thức viêm khớp thông thường nhất, đặc biệt là ở người lớn tuổi. Viêm xương khớp là bệnh khớp xương gây ra do sự hư hỏng sụn – sụn là tế bào đàn hồi đệm cho xương ở khớp xương. Sụn khỏe mạnh làm cho xương có thể lướt lên nhau và sụn hấp thu năng lượng do chuyển động va chạm. Ở người bị viêm xương khớp, sụn bị hỏng và mòn đi. Kết quả là xương cọ vào nhau, gây ra đau, sưng và cứng khớp. Viêm xương khớp có thể làm giới hạn cử động ở phần khớp bị đau. Thường viêm xương khớp phát triển ở tay, đầu gối, hông và xương sống. Bệnh ảnh hưởng tới phụ nữ và đàn ông như nhau. Hơn 20 triệu người ở Mỹ mắc chứng viêm xương khớp. Triệu chứng thường xuất hiện khi ở tuổi 50 và 60.

Triệu chứng viêm khớp
 
Các dấu hiệu và triệu chứng viêm xương khớp bao gồm:
  • Đau khớp (thường là đau nhiều) khi cử động đau nhiều hơn và nghỉ ngơi thì bớt (trong trường hợp nặng có thể đau liên tục)
  • Cảm thấy cứng khớp vào buổi sáng hoặc sau khi bất động hơn 15 phút
  • Sưng khớp
  • Sờ chỗ khớp thấy ấm
  • Nghe rào rào hay lục cục khi khớp chuyển động
  • Tầm cử động bị hạn chế
  • Bắp thịt yếu
  • Những nốt xương bất bình thường mọc lên gần khớp làm cho khớp biến dạng (chẳng hạn nốt Heberden, bứu xuất hiện ở khớp ngón tay ngoài cùng).
Nguồn gốc bệnh viêm xương khớp
 
Viêm xương khớp cũng được gọi là bệnh thoái hóa khớp vì tình trạng này bao gồm sự phá hủy sụn bảo vệ khớp. mặc dù có những yếu tố tiên báo một người mắc bệnh viêm xương khớp, nhưng người ta chưa biết rõ điều gì gây ra sự hủy hoại và mất sụn. Trong một ít trường hợp, viêm khớp xảy ra do sự nứt, hoặc do sự bất bình thường cơ học như chi dưới dài không đều, những bệnh xương khớp khác như bệnh gút hoặc sự rối loạn nội tiết hoặc chuyển hóa có thể gây viêm xương khớp.
 
Các yếu tố nguy cơ viêm xương khớp
 
Những yếu tố nguy cơ viêm xương khớp gồm có:
  • Lớn tuổi
  • Yếu tố di truyền
  • Béo phì
  • Vết thương ở khớp
  • Có tiền sử viêm khớp
  • Rối loạn chuyển hóa hay rối loạn hormon (hemochromatosis và acromegaly)
  • Rối loạn xương và khớp khi sinh
  • Khớp làm việc căng thẳng ở một số hoạt động như chơi bóng chày, khiêu vũ, và công việc xây dựng
  • Lắng đọng tinh thể ở khớp như xảy ra ở bệnh gút
Chẩn đoán viêm xương khớp
 
Không thể chẩn đoán viêm xương khớp chỉ  bằng một xét nghiệm duy nhất mà phải bằng nhiều phương pháp để loại trừ khả năng gây ra của một số nguyên do khác.
  • Tiền sử bệnh án – bác sĩ đánh giá triệu chứng bằng cách hỏi khi nào triệu chứng bắt đầu, biến chuyển ra sao, khớp nào bị và trước đây ảnh hưởng ra sao. Bác sĩ sẽ hỏi về tình trạng thể trạng khác có thể góp phần tạo ra triệu chứng viêm khớp, những thuốc đang uống cũng có thể tương tác với các loại thuốc bác sĩ có ý định kê đơn, do đó cũng phải được xem xét.
  • Khám nghiệm vật lý – các khớp bị viêm sẽ được xem xét tình trạng sưng đỏ, tiếng kêu lụp cụp khi xương cọ vào nhau do thiếu sụn, sự hiện diện của chất lỏng trong khớp, sức mạnh và tầm vực chuyển động của khớp.
  • X-quang để chẩn đoán sự mất sụn (được thấy khi khoảng cách khớp nhỏ lại), tình trạng xương bị gai hay mòn.
  • Thử máu được tiến hành để tìm những dấu hiệu viêm tổng quát để loại trừ khả năng gây ra do những bệnh khác như thấp khớp hay Lyme’s disease, và để kiểm tra sự có mặt của các chất đánh dấu bệnh việm khớp như axít hyaluronic, một chất tạo ra sự bôi trơn cho khớp nhưng bị hư hỏng do bệnh viêm khớp.
  • Hút dịch ở khớp – Chất dịch nếu có sẽ được hút để đánh giá bằng cách dùng kim và syringe; thông thường đối với bệnh viêm khớp sẽ không có đủ lượng chất lỏng trong khớp để hút; vì thế đánh giá chất lỏng có thể tiết lộ nguyên nhân khác của bệnh viêm khớp như bệnh gút hay tình trạng nhiễm trùng.
Phòng ngừa
 
Những biện pháp sau có thể làm giảm thiểu nguy cơ phát triển viêm khớp xương:
  • Không để cho khớp đang bị thương thiệt hại thêm
  • Tập thể dục
  • Giảm cân
  • Tránh vận động lặp đi lặp lại quá mức
Phương pháp điều trị viêm khớp của chúng tôi
 
Mục đích điều trị viêm khớp là giảm triệu chứng, duy trì tình trạng vận động và loại trừ tối đa tình trạng thương tật. Chúng tôi sử dụng tổng hợp thủ thuật thần kinh cột sống, trị liệu và bổ sung sản phẩm thiên nhiên. Nếu có thể và nếu muốn sẽ điều trị viêm khớp không dùng thuốc. Thuốc giảm đau và kháng viêm không nên sử dụng như cách điều trị chủ yếu – chỉ dùng khi hoàn toàn cần thiết, kết hợp với những hình thức trị liệu khác. Lối sống, sự tập thể dục, và những hình thức trị liệu khác trở nên ngày càng phổ biến và được coi là an toàn và hiệu quả để điều trị viêm khớp. Một số cách chữa trị tự nhiên cũng hiệu quả như y khoa đương thời để làm giảm triệu chứng và có thể dần dần làm giảm thiểu sự tiến triển của bệnh. Nhiều cuộc khảo cứu tiến hành năm 1997 thấy rằng có từ 26% tới 100% bệnh nhân rối loạn thấp khớp (đau bắp thịt, đau gân, đau khớp và xương) đã sử dụng một hình thức trị liệu bổ sung và dùng thuốc đông y.
Một số phương pháp bổ sung hứa hẹn nhất để chữa trị viêm khớp là:
  • Thủ thuật thần kinh cột sống chỗ viêm khớp.
  • Làm giảm sự đè nén lên chỗ viêm khớp bằng cách như giảm cân hay sửa đổi lại tư thế
  • Cải thiện lối sống (cụ thể là thể dục)
  • Sử dụng thuốc bổ sung như S-adenosylmethionine (SAMe), glucosamine và chondroitin, và chất chống oxyhóa.
  • Dùng thảo dược có tính kháng viêm như cây móng quỉ, vỏ cây liễu, và kem capsaicin.
  • Châm cứu
  • Vật lý trị liệu và chữa trị bằng nam châm (magnet therapy)
  • Thực hành Yoga
  • Thực hành khí công (Tai chi)
 

Tập thể dục để làm tăng cường sức mạnh, kéo dài và thư giãn bắp thịt quanh chỗ viêm khớp luôn được đưa vào trong chương trình trị liệu. Nhiều cuộc nghiên cứu đã củng cố giá trị của việc tập thể dục đối với người bị viêm khớp. Như cuộc nghiên cứu mới đây thấy rằng người tham gia chương trình tập thể dục ở nhà giảm đau được 23% so với những người không tập chỉ giảm đau được 6 %. Những cuộc nghiên cứu khác cũng nói rằng ngoài làm giảm đau và giảm nguy cơ tật nguyền thể dục còn tăng cường sức mạnh, tầm vực cử động, sự cân bằng, tính phối hợp, sức chịu đựng và cải thiện tư thế.

Thức ăn bổ sung và cách chữa trị thiên nhiên
 
Glucosamine và chondroitin là những hợp chất tự nhiên trong sụn. Để bổ sung, những chất  này được lấy từ sụn bò và bê. Những chất này đã được dùng ở Âu Châu hơn một thập niên và mới đây cũng phổ biến ở Mỹ. Hai chất này cho thấy có thể ức chế viêm trong phòng thí nghiệm. Để đánh giá tác dụng lâu dài và tính chất bổ dưỡng của những chất này Trung Tâm Quốc Gia Thuốc Bổ Sung và Dược Liệu Thay Thế (NIH) đã tài trợ một chương trình so sánh lâm sàng hai hợp chất glucosamine, chondroitin và tổng hợp hai chất với giả dược. Cuộc nghiên cứu hoàn tất vào tháng ba 2005.
Nhiều thử nghiệm lâm sàng dùng glucosamine và condroitin để điều trị viêm khớp kết luận rằng những chất này có một số lợi ích.
  • Glucosamine được dùng bằng cách uống hoặc tiêm vào khớp hay bắp thịt. Hình thức hay được sử dụng nhất là dạng glucosamine sulfate, nó có tính năng:
  • Giảm đau hiệu quả hơn giả dược hay NSAIDs (đặc biệt là ibuprofen)
  • Thời gian bắt đầu tác dụng chậm hơn ibuprofen nhưng tác dụng giảm đau kéo dài lâu hơn.
  • Có ít tác dụng ngược hơn là ibuprofen
  • Làm giảm đau hiệu quả hơn cải thiện tầm cử động tốt hơn giả dược và NSAID piroxicam
  • Cải thiện triệu chứng lâu dài hơn so với piroxicam
Mặc dù những cuộc nghiên cứu này có kết quả tích cực, nhưng chưa nghiên cứu về tính an toàn lâu dài và hiệu quả của thuốc bổ sung. Một cuộc nghiên cứu 212 bệnh nhân bị viêm khớp dùng glucosamine và giả dược trong 3 năm, những người trong nhóm dùng glucosamine giảm được 25% triệu chứng, cải thiện khoảng cách khớp nói rằng thuốc bổ sung còn làm chậm tiến trình của bệnh. Nhóm dùng glucosamine cũng không bị tác dụng ngược như trong nhóm dùng giả dược.
Một vài chuyên gia cho rằng một dạng khác của glucosamine là glucosamine hydrochloride còn có thể được cơ thể hấp thu nhanh hơn glucosamine sulfate. Hầu hết các cuộc nghiên cứu tới nay chỉ tiến hành đối với glucasamine sulfate nên dạng thuốc trên đang được đề nghị sử dụng cho bệnh nhân viêm khớp.
Chondroitin cũng được sử dùng bằng cách uống hay chích vào chỗ viêm hoặc bắp thịt. Người ta thấy nó có các kết quả sau trong thử nghiệm lâm sàng:
  • Giảm được nhu cầu dùng NSAIDS và những loại thuốc giảm đau khác
  • Giảm đau (đôi khi hiệu quả hơn thuốc y khoa kinh điển (conventional); tác dụng kéo dài tới 3 tháng sau khi đã không còn sử dụng chondroitin.
  • Tăng khả năng cử động
  • Giảm viêm
  • Giảm chất dịch trong khớp
  • Tăng tốc độ bước
  • Làm giảm tiến trình bệnh
Mặc dù glucosamine và chondroitin  được nghiên cứu riêng rẽ, bằng chứng cho thấy sử dụng đồng thời hai chất này có thể là cách trị liệu an toàn và hiệu quả đối với bệnh viêm khớp. Như đã đề cập ở trên, một cuộc nghiên cứu do NIH tài trợ so sánh glucosamine, chondroitin và tổng hợp hai chất trên đối với giả dược cũng được nghiên cứu và chấm dứt vào tháng ba 2005.
Các chuyên gia y tế cũng lưu ý rằng những chất bổ sung bán ở quầy thuốc ở Mỹ không bị chi phối bởi luật lệ của cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm FDA Mỹ có nghĩa là những thành phần ghi ở nhãn không có sự đảm bảo về tiêu chuẩn và chất lượng.
 
S-adenosylmethionine (SAMe)
 
Các cuộc nghiên cứu ở phòng thí nghiệm và trên súc vật thấy rằng SAMe giảm đau và kháng viêm nhưng các nhà nghiên cứu chưa biết rõ cơ chế hoạt động của nó như thế nào. Các cuộc nghiên cứu lâm sàng trên người (thời gian ngắn và qui mô nhỏ) cũng cho thấy kết quả tích cực khi dùng SAMe để làm giảm các triệu chứng viêm khớp.
Những cuộc nghiên cứu ngắn ngày (từ 4 tới 12 tuần) cũng cho thấy bổ sung SAMe (1200 mg/ngày) ở người lớn bị viêm khớp đầu gối, hông hay cột sống có kết quả thuận lợi hơn so với dùng NSAIDs về các phương diện:
  • Giảm cứng khớp vào buổi sáng
  • Giảm đau
  • Giảm sưng
  • Cải thiện tầm cử động
  • Tăng tốc độ đi bộ
Trong những cuộc nghiên cứu rộng rãi hơn với SAMe (mẫu nghiên cứu có hơn 20,000 người đại diện), bao gồm những cuộc thử  nghiệm dài (2 năm), thuốc bổ sung mang lại những lợi ích sau đây:
  • Những triệu chứng đau được cải thiện
  • Ít hiệu ứng phụ
  • Sự sản sinh sụn Không bị tác dụng tiêu cực (khác với NSAIDs)
  • Giảm nguy cơ tái phát
Vitamin D
 
Vitamin D rất quan trọng đối với xương và sụn. Các cuộc nghiên cứu đánh giá vitamin D đối với bệnh viêm khớp như sau:
  • Vitamin D phòng ngừa thoái hóa sụn
  • Thiếu hấp thu vitamin có thể dẫn tới nguy cơ viêm khớp hông ở phụ nữ có tuổi và các biến đổi khớp (có thể thấyđược trên hình chụp x-quang) ở đàn ông và phụ nữ
Chất chống oxy hóa
 
Chất chống oxy hóa giảm được sự oxy hóa và viêm gây ra bởi gốc tự do và vì thế làm chậm quá trình viêm khớp. Gốc tự do có thể sinh ra trong khớp và gây ra thoái hóa trong cơ thể người lớn tuổi, bao gồm sự hủy hoại sụn và các tế bào liên quan. Chất chống oxy hóa bù lại thiệt hại gây ra bởi gốc tự do. Mặc dù cần phải có thêm bằng chứng củng cố quan điểm này, một số nghiên cứu trên người cho thấy những chất chống oxy hóa sau có thể làm giảm triệu chứng viêm khớp:
  • Vitamin A và beta-crotene
  • Vitamin C
  • Vitamin E
Ngoài ra, những cuộc nghiên cứu về vitamin E cho thấy người mắc viêm khớp thấy giảm đau rõ rệt sau khi uống 600 mg vitamin E mỗi ngày so với người chỉ nhận giả dược. Những người uống 600 mg vitamin E ba lần mỗi ngày thấy giảm đau nhiều hơn người uống NSAID diclofenac.
 
Niacinamide
 
Trong một cuộc nghiên cứu sơ bộ, 72 bệnh nhân viêm khớp được chọn một cách ngẫu nhiên uống niacinamide, một dạng vitamin B3, và giả dược. Nhóm uống niacinamide thấy giảm được 30%triệu chứng  trong khi nhóm dùng giả dược còn cảm thấy 10% tệ hơn. Những người dùng niacinamide cho biết:
  • Khả năng cử động khớp cải thiện
  • Giảm được nhu cầu dùng thuốc kháng viêm
Tác giả các cuộc nghiên cứu suy luận rằng niciamide có thể giúp tái tạo sụn và cho rằng có thể dùng NSAIDs một cách an toàn để giảm viêm. Cần phải nghiên cứu thêm nữa để có thể hiểu được niacinamide tác dụng có lợi như thế nào đối với người bị viêm khớp và có thể sử dụng cho mọi người bị tình trạng này hay không. Một điều cần lưu ý là niacinamide phải được sử dụng 3 tuần mới thấy được kết quả như trên. Các chuyên gia cho rằng dùng dài hạn (từ 1 tới 3 năm) có thể làm chậm tiến trình của bệnh.
 
Các loại axít béo Omega-3
 
Các loại axít béo Omega-3 tìm thấy ở các loại cá nước lạnh như cá hồi, cá trích và cá thu và ở hạt lanh, hạt rapeseed (canola), hạt cây óc chó. Nghiên cứu về việc sử dụng axít béo omega-3 bổ sung đối với tình trạng viêm khớp thường tập trung vào viêm xương thấp. Dựa vào các nghiên cứu ở phòng thí nghiệm, các nhà nghiên cứu cho rằng chế độ ăn giàu axít omega-3 ( và ít axít béo omega-6) có thể có lợi cho người bị rối loạn viêm như trong trường hợp viêm xương. Thực vậy, nhiều cuộc nghiên cứu phòng thí nghiệm về tế bào sụn thấy rằng axít béo omega-3 giảm viêm và giảm đươc hoạt tính của các enzyme phân hủy tế bào sụn.
Một nguồn axít béo tiềm năng khác là loài trai môi xanh (Perna canaliculus), loài này được người dân Maori sử dụng như một thực phẩm bổ dưỡng. Một cuộc thử nghiệm 38 người bị viêm khớp sử dụng nước trích loài trai Perna canalicus gần 40% thấy được kết quả sau:
  • Giảm cứng và đau khớp
  • Tăng trương lực nắm
  • Tăng được tốc độ đi đứng
Một điều quan trọng cần lưu ý là độ 10% người tham dự thí nghiệm cảm thấy tệ hơn khi lần đầu tiên sử dụng chất bổ sung này. Ngoài ra, tốt hơn nên dùng trích ly mỡ P. canaliculus hơn là dùng chất bột vì có ít nguy cơ bị dị ứng. Những người bị dị ứng đồ biển nên tránh dùng P.canalicus.
 
Mangan
 
Mangan là một trong những chất cơ thể dùng để tạo thành sụn. Trong một cuộc thử nghiệm lâm sàng nghiên cứu glucosamine, choindroitin, và mangan, 72 người bị viêm khớp gối từ nhẹ tới trung bình đã có sự cải thiện rõ rệt sau khi dùng chất bổ sung tổng hợp nói trên so với những người dung giả dược. Không có hiệu ứng phụ nào. Những người bị nặng hơn không có kết quả khi dùng tổng hợp chất trên. Mặc dù cuộc nghiên cứu trên nói rằng mức mangan thấp có thể tạo ra tình trạng thoái hóa khớp và mất xương nhưng người ta không rõ vai trò của mangan như thế nào đối với kết quả nói trên. Một điều thú vị là chừng 37 % người Mỹ có chế độ ăn uống ít mangan.
 
Những chất bổ sung khác
 
Theo giai thoại và những cuộc nghiên cứu sơ bộ, những chất bổ sung khác có tiềm năng giảm nhẹ viêm khớp là:
  • Dứa Bromelain (Ananas comosus) – tốt hơn NSAID về phương diện giảm đau
  • Nguyên tố Bo – những cuộc nghiên cứu sơ bộ trên người và súc vật cho rằng chất này có thể giảm làm giảm sự  xuất hiện các triệu chứng viêm khớp
  • Sản phẩm thủy phân da – có thể kích thích tế bào tạo ra collagen, tuy nhiên lý thuyết trên còn đang đươc thử nghiệm.
 
Dược liệu cây cỏ là những bài thuốc người viêm khớp thích sử dụng. Có bằng chứng khoa học cho thấy những chất sau rất có công hiệu chữa trị viêm khớp:
Herbal remedies are among the most popular alternative therapies used by individuals with arthritis. Scientific evidence suggests that the following herbs are most effective for treating OA:
  • Cây móng quỉ (Harpagophytum procumbens)
  • Vỏ cây liễu (Salix spp.)
  • Cây tầm ma (Urtica dioica)
  • Tổng hợp các loại: câydương lá rung (Populus tremula), cây tần bì (Fraxinus excelsior) và goldenrod (Solidabo viraurea)
  • Tổng hợp các loại cây họ đỗ quyên (Ayurvedic) chứa trích ly ashwagandha (Withania somnifera), boswellia (Boswellia serrata) và nghệ (Curcuma longa)
  • Tổng hợp vỏ cây dương liễu (Salixspp.), black cohosh (Cimicifuga racemosa), thổ phục linh (Smilax spp.), nhựa gaiad (Guaiacum officinale), và vỏ cây dương (Populus tremuloides)
Một số cây hứa hẹn công dụng chữa trị viêm khớp còn có:
 
Ớt Capsaicin (Capsicum frutescens)
 
Capsaicin  là chất chủ yếu chứa trong ớt (ớt cayenne).  Người ta tin rằng đắp lên da sẽ làm tan chất gây sưng và đau ở người bị viêm khớp. Một số nghiên cứu thấy rằng kem capsaicin làm giảm đau tốt hơn giả dược nhưng không có kết quả đối với sưng khớp, hoặc tăng cường trương lực hay cải thiện chức năng cho người viêm khớp. Đau sẽ giảm sau từ 3 tới 7 ngày đắp kem capsaicin lên da.
 
Trích ly trái bơ và đậu nành
 
Các cuộc nghiên cứu trong phòng thí nghiệm thấy rằng trích ly trái bơ hay đậu nành có thể kích thích sinh trưởng collagen (protein chủ yếu ở da, gân, sụn và xương) ở tế bào sụn. Trong một cuộc nghiên cứu, 164 người bị viêm đầu gối, hông được cho uống trích ly trái bơ hay đậu nành trong vòng 6 tháng. Những bệnh nhân này cảm thấy thuyên giảm và không bị hoặc bị ít hiệu ứng phụ: 
Laboratory studies suggest that avocado/soybean extracts stimulate the growth of collagen (the principal protein of the skin, tendons, cartilage, and bone) in cartilage cells. In a study of 164 people with OA of the knee or hip, researchers found that participants who received avocado/soybean extracts for 6 months experienced the following improvements with few or no side effects:
  • Giảm đau
  • Tăng tính cơ động
  • Giảm nhu cầu dùng NSAIDs
Cây móng mèo  (Uncaria tomentosa)
 
Nghiên cứu thấy 45 người bị viêm khớp đầu gối sử dụng cây móng mèo giảm đau đầu gối so với người dùng giả dược.
 
Gừng (Zingiber officinale)
 
Trích ly gừng từ lâu đã được sử dụng trong các bài thuốc truyền thống để làm giảm sưng. Tuy nhiên có rất ít báo cáo về lợi ích của gừng trong y văn về chữa trị viêm khớp, một cuộc nghiên cứu mới đây thấy rằng loại cây này cũng không có hiệu quả hơn gì ibuprofen hay giả dược khi chữa trị viêm khớp.
 
Tiêu (Piper methysticum)
 
Tiêu từ lâu đã được dùng như một loại giảm đau nhưng có rất ít nghiên cứu đánh giá tác dụng này của tiêu. Nghiên cứu trên súc vật cho thấy tiêu có tác dụng giảm đau. Đối với người có thể có tác dụng.
 
Châm cứu
 
Nhiều cuộc thử nghiệm cho thấy châm cứu có tác dụng trị liệu tốt đối với cơn đau do viêm khớp, kể cả cải thiện chức năng khớp, khả năng đi lại. Một số nghiên cứu thấy châm cứu giảm đau và cải thiện chức năng người bị viêm khớp tốt hơn là dùng  NSAID (các loại giảm đau và kháng viêm). Đan cử một trường hợp một nhóm 29 người đang chờ phẫu thuật do viêm khớp gối được châm cứu đã cải thiện rõ rệt khả năng lên cầu thang và tốc độ đi bộ so với người không được châm cứu.
 
Thai nghén và viêm khớp
 
Hầu hết phụ nữ có thai còn trẻ nên không bị viêm khớp. Nhiều loại dược thảo dùng chữa trị viêm khớp chưa được thử nghiệm trên phụ nữ có thai, một số dược thảo được biết không an toàn đối với phụ nữ có thai. Vì lý do này, phụ nữ có thai chỉ nên sử dụng những loại thảo dược đã được bác sĩ chấp nhận.
 
Diễn tiến và biến chứng
 
Biến chứng viêm khớp gồm:
  • Mất khả năng đi do sự tiến triển của viêm khớp
  • Xuất huyết bao tử và giảm chức năng thận do dùng thuốc giảm đau kháng viêm và aspirin dài ngày
Có thể khống chế được viêm khớp và ngăn ngừa diễn tiến xấu hơn. Thoái hóa do viêm khớp có khuynh hướng chậm hơn là viêm khớp thấp, nhưng viêm khớp gối vẫn còn là một nguyên nhân gây tàn tật ở các nước công nghiệp như Mỹ. Trong giai đoạn sau của bệnh dịch khớp tăng lên và khớp to ra. Trong hầu hết giai đoạn trễ, viêm khớp có thể gây mất sụn hoàn toàn. Ở một vài trường hợp phải thay khớp. Tuy viêm khớp là một gây suy nhược, các phương pháp trị liệu hiện nay cho thấy nhiều khả năng giảm đau và cải thiện được chức năng đi lại của người bệnh.